Skip to main content

Obata Hideyoshi – Wikipedia tiếng Việt



Obata Hideyoshi (小畑英良, おばた ひでよし) (2 tháng 4 năm 1890 - 11 tháng 8 năm 1944) là một vị tướng của Lục quân Đế quốc Nhật Bản trong Thế chiến thứ hai. Ông đã mổ bụng tự sát (seppuku) sau thất bại của quân Nhật trong trận Guam vào năm 1944.





Obata quê ở quận Osaka. Ông tốt nghiệp khóa 23 Trường Sĩ quan Lục quân (Đế quốc Nhật Bản) vào tháng 12 năm 1911 và được đưa vào hoạt động ở quân chủng kị binh với quân hàm trung úy. Năm 1919, ông tốt nghiệp khóa 31 Đại học Lục quân và được phong quân hàm đại úy.

Obata là thành viên của nhóm ái quốc cực đoan Hoàng đạo phái (Kōdōha) dưới sự chỉ huy của Araki Sadao, chủ trương cổ vũ sức mạnh tinh thần của quân đội bằng cách đề cao tinh thần thượng võ và vai trò của Thiên hoàng. Đối lập với Hoàng đạo phái là Thống chế phái (Toseiha) do Ugaki Kazushige đứng đầu.

Từ 1923-1927, Obata trở thành tùy viên quân sự tại Vương quốc Anh và từ năm 1927-1934 là tại Ấn Độ thuộc Anh. Tháng 8 năm 1934, ông được phong hàm đại tá khi đang phục vụ trong quân chủng kị binh và triệu hồi về Nhật để làm việc trong Bộ tổng tham mưu Lục quân Đế quốc Nhật Bản.

Obata được phong hàm thiếu tướng vào tháng 3 năm 1938 và được chuyển từ kị binh sang không lực lục quân. Ông được bổ nhiệm làm hiệu trưởng trường Không lực lục quân Akeno tháng 8 năm 1938. Tháng 12 năm 1940, ông được phong hàm trung tướng và bổ nhiệm làm chỉ huy Không đoàn 5 đóng tại Đài Loan khi Chiến tranh Thái Bình Dương bắt đầu. Sau đó, ông được điều đến mặt trận Miến Điện vào năm 1942. Tháng 5 năm 1943, ông trở thành tổng tư lệnh Không lực 3 Lục quân nhưng lại được triệu hồi về Tokyo tháng 12 cùng năm.[1]

Ngày 18 tháng 2 năm 1944, Obata được giao chỉ huy Quân đoàn 31 với 2 sư đoàn 29 và 53 làm nhiệm vụ phòng thủ quần đảo Mariana. Khi quân Đồng Minh chuẩn bị đổ bộ, Obata đã yêu cầu gửi thêm xi măng, sắt thép để làm hệ thống phòng thủ nhưng phần lớn đồ tiếp tế đã bị đánh chìm xuống đáy biển.[2] Khi quân Mỹ đổ bộ lên Saipan, Obata đã cho dời sở chỉ huy của mình đến đảo Guam. Tại đây, ông đã cùng trung tướng Takeshi Takashina làm nhiệm vụ bảo vệ đảo. Tuy nhiên, khi quân Mỹ đổ bộ chiếm Guam vào ngày 21 tháng 7, quân Nhật đã nhanh chóng bị quân lực và hỏa lực Mỹ áp đảo. Sau khi tướng Takashina chết vào ngày 28 tháng 7, quyền chỉ huy được chuyển giao cho Obata. Cuối cùng, khi thấy không còn giữ được đảo, Obata đã ra lệnh cho những người lính của mình chiến đấu đến chết rồi thực hiện mổ bụng tự sát (seppuku) vào ngày 11 tháng 8 năm 1944.[3] Sau khi chết, ông được truy phong quân hàm đại tướng.




  1. ^ Budge, Pacific War Online Encyclopedia

  2. ^ Cuộc chiến tranh TBD, sđd, trang 20

  3. ^ Chen, World War II Database



Sách[sửa | sửa mã nguồn]


  • Lê Vinh Quốc-Huỳnh Văn Tòng (2000). Cuộc chiến tranh Thái Bình Dương (1941-1945) - Quyển 2. Việt Nam: Nhà xuất bản Giáo dục. 

  • Dupuy, Trevor N. (1992). Bách khoa toàn thư Tiểu sử Quân đội. I B Tauris & Co Ltd. ISBN 1-85043-569-3. 

  • Fuller, Richard (1992). Shokan: Hirohito's Samurai. London: Arms and Armor. ISBN 1-85409-151-4. 

  • Gailey, Harry (1988). Giải phóng đảo Guam (21/7 - 10/8). Novato, California, U.S.A.: Presidio Press. ISBN 0-89141-651-X. 

  • Hayashi, Saburo; Cox, Alvin D (1959). Kogun: Quân đội Nhật Bản trong Chiến tranh Thái Bình Dương. Quantico, VA: The Marine Corps Association. 

Web[sửa | sửa mã nguồn]



Comments

Popular posts from this blog

Chủng tộc và quốc gia của Warhammer Fantasy

Trong bối cảnh giả tưởng Warhammer Fantasy của Games Workshop, có một số chủng tộc và quốc gia khác nhau. Điều quan trọng nhất trong số các tính năng này là các đội quân riêng lẻ trong trò chơi hàng đầu trong bảng Warhammer Fantasy Battle. Cõi đàn ông [ chỉnh sửa ] Tất cả các quốc gia nhân loại đặc trưng đều có trụ sở ở Thế giới cũ. Vương quốc Bretonnia [ chỉnh sửa ] Bretonnia dựa trên nước Pháp thời trung cổ trong thế giới thực; Tên của nó rõ ràng có nguồn gốc từ tỉnh Britanny của Pháp và nó rút ra rất nhiều từ những truyền thuyết Arthurian có liên quan đến thời trung cổ Brittany; ví dụ với The Lady và The Green Knight, cả hai đều có sự tương đồng với truyền thuyết Arthurian. Mặc dù ban đầu được cộng đồng Warhammer nhận là quá lý tưởng cho bầu không khí Warhammer, nhưng những cuốn sách nguồn tiếp theo đã tiết lộ sự kiêu ngạo tiềm ẩn của các hiệp sĩ Bretonnian và cách đối xử tàn nhẫn của họ đối với những công dân thấp hèn của họ. Bretonnia được thành lập khi Hiệp sĩ L...

Macaroni và phô mai - Wikipedia

Macaroni và phô mai Cách gọi là mac và phô mai hoặc mac n cheese trong tiếng Anh của Mỹ và Canada, đôi khi có thể được gọi là bánh macaroni Caribbean English, [1] và phô mai macaroni tại Vương quốc Anh [2] Chuyện là một món ăn có nguồn gốc tiếng Anh, bao gồm mì ống macaroni nấu chín và sốt phô mai, phổ biến nhất là cheddar. Nó cũng có thể kết hợp các thành phần khác, chẳng hạn như vụn bánh mì, thịt và rau. [3] [4] Mì ống và phô mai truyền thống là một món thịt hầm nướng trong lò; tuy nhiên, nó có thể được chuẩn bị trong một chảo nước sốt trên bếp hoặc sử dụng hỗn hợp đóng gói. [4] Phô mai thường được kết hợp đầu tiên vào nước sốt Béchamel để tạo ra nước sốt Mornay, sau đó được thêm vào mì ống. Ở Hoa Kỳ, nó được coi là một loại thực phẩm thoải mái. [5] [6] Lịch sử [ chỉnh sửa ] Pasta và soong phô mai đã được ghi nhận sớm nhất là vào thế kỷ thứ 14 trong cuốn sách nấu ăn của Ý, Liber de Coquina một trong những cuốn sách dạy nấu ăn thời trung cổ lâu đời nhất, có mộ...

Chak Chak, Yazd - Wikipedia

ngôi làng ở Iran Chak Chak (tiếng Ba Tư: چك - "Drip-Drip", cũng được La Mã hóa là Chek Chek ; ] Chāhak-e Ardakān và Pir-e Sabz (tiếng Ba Tư: پیر سبز ) "The Green Pir") [1] là một ngôi làng ở quận Rabatat Quận, Hạt Ardakan, Iran. Tại cuộc điều tra dân số năm 2006, sự tồn tại của nó đã được ghi nhận, nhưng dân số không được báo cáo. [2] Ngôi làng bao gồm một cướp biển nằm bên dưới một vách đá cao chót vót trên sa mạc miền trung Iran. Đây là ngôi đền linh thiêng nhất của Zoroastrianism. Nằm gần thành phố Ardakan, Chak Chak phục vụ như một điểm hành hương cho những người Zoroastrians ngoan đạo. Mỗi năm từ ngày 14 tháng 6 181818, hàng ngàn người Zoroastrians từ Iran, Ấn Độ và các quốc gia khác đổ về ngôi đền lửa ở Pir-e Sabz. Truyền thống kể rằng những người hành hương sẽ dừng việc cưỡi ngựa ngay khi họ nhìn thấy ngôi đền và hoàn thành chặng cuối của hành trình đi bộ. Trong niềm tin của Zoroastrian, Chak Chak là nơi Nikbanou, con gái thứ ...